Trăn trở sau mùa thơ 2011
Lương Tùng Nam
Năm đầu tiên thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 đang rơi rụng những tờ lịch cuối. Mùa xuân trốn nấp đâu đó, chờ thời tiết ấm lên là tưng bừng ùa đến. Chúng ta, những người cầm bút lại bình tâm nhìn lại một mùa thơ vừa gặt. Bao niềm vui, nỗi buồn, bao tin yêu và cả trăn trở với đời, sau một năm trộn vào con chữ nước mắt, mồ hôi, nhiệt huyết trong lao động nghệ thuật thơ.
Nhìn lại đội ngũ thơ Tuyên Quang năm 2011, vẫn chưa thật hùng hậu, chưa có bứt phá mới. Thơ vẫn cứ bình bình, đều đều như những năm trước. Các cây bút đã đi theo cách viết tương đối định hình. Cuối năm ngoái, đã bổ sung vài hội viên thơ. Tuy vậy thơ của những tác giả “trẻ” về tuổi hội chưa in dấu trong lòng độc giả. Có thể khẳng định trên báo Tân Trào, Hội Văn học- Nghệ thuật Tuyên Quang, trang thơ luôn được trân trọng và ưu ái. Nó là một mặt không thể thiếu vắng của tờ báo. Với trên hai chục số báo trong năm, lượng thơ được giới thiệu ngót nghét 300 bài. Phần lớn số tác phẩm này là của các tác giả hội viên. Bên cạnh đó cũng góp mặt các tác giả khắp mọi miền đất nước, vì yêu mến quê hương cách mạng, miền núi, giàu bản sắc dân tộc mà gửi gắm lòng mình. Thơ trên Tân Trào luôn đúng, bắt nhịp với cuộc sống đương đại, với thời tiết chính trị ở địa phương. Thơ về Đảng, về Bác Hồ, về quê hương yêu dấu, xuất hiện đều đặn trên các số báo. Mảng đề tài Học tập tấm gương tư tưởng đạo đức Hố Chí Minh ít nhiều đã được thi vị hóa thành những vần thơ giản dị mang tính giáo dục cao.
Cùng với sự cách tân, đổi mới tìm hướng đi riêng cho thơ, năm qua thi sỹ Tuyên Quang đã có tìm tòi, thể nghiệm. Sự dịch chuyển đó chưa biết sẽ đi về đâu, xong, dứt khoát nó không lặp lại người khác. Và trên thực tế, người đọc thấy yên lòng bởi những cung bậc cảm xúc ẩn chứa. Những câu thơ rất gần, đang tiệm cận cuộc sống mà không rời rạc, khô khan. Vừa khai triển, vừa quy nạp, triết lý những điều bé mọn mà không rơi vào vụn vặt. Thơ tác giả Tuyên Quang mang lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới.
Tôi không đi theo và không ưa gì thơ kiểu “hũ nút”. Đọc xong mà chẳng hiểu thơ nói gì! Một bạn đọc dẫn cho tôi một số bài thơ (không ở Tuyên Quang) bỏ đi vài khổ cũng được(!), thiếu vài câu cũng chẳng sao(!). Thậm chí đưa khổ thơ của bài này ghép vào bài khác vẫn thấy “được”(!). Nhưng thơ trên Tân Trào lại quá thật. Thật đến mức chỉ cần đọc câu đầu là biết câu sau. Lại có thơ rất đậm đặc về “địa danh”. Đây là lối mòn cố hữu của số ít tác giả. Thơ không viết bằng cảm xúc. Bài thơ chỉ cần thay đổi địa danh lại nghiễm nhiên trở thành “bài thơ” khác. Ví như Yên Sơn, thay bằng Sơn Dương; Hàm Yên thành Nà Hang! Đây là thứ thơ lắp ráp. Nó cũng giống với lối tư duy máy móc, dập khuôn. Hễ cứ nói mùa thu là sẽ có hoa cúc, lá vàng, mùa xuân là hoa đào, mưa phùn... Cái đó đã muôn năm cũ rồi, ai cũng biết, khỏi phải kể. Thật đáng buồn cho những người thơ chưa chịu làm mới mình. Nhận xét thơ tác giả Tuyên Quang ở trại sáng tác Đại Lải, (phần thiếu sót nhược điểm) nhà thơ Mai Liễu viết: “…Một số bài lập tứ còn đơn giản, ít tạo được sự đột biến về ý tưởng và cảm xúc…/ Thiếu cô đọng, ý thơ chưa sáng, hình ảnh cũng chưa gắn với ý tưởng của bài thơ/ Những câu thơ dễ dãi, diễn đạt bằng khái niệm chính trị, giáo điều/…là dạng thơ thù tạc, ghi chép qua loa, lối viết giản đơn, ngôn từ quen thuộc, không có cá tính, cá biệt, không thể hiện dấu ấn lao động công phu…”
Lại nói về thẩm thơ. Trong lời giới thiệu tập thơ Khúc hát thành Cổ Loa của Kevin Bowen, nhà thơ Hữu Thỉnh viết “Nói về thơ là nói về thế giới của những điều bí ẩn. Có những cái ta hiểu được, có nhiều cái ta chưa hiểu được. Có cái giải thích được, có nhiều cái ta chi cảm nhận được mà không thể giải thích được.”
Trong bài giới thiệu tác phẩm Tóc dài của Tạ Bá Hương, tác giả Huy Hảo cố tình chữa sai chữ “tóc dày rối cả lược thơ” thành “tóc dày rối cả lược thưa” để bình. Theo Huy Hảo, tóc phải đi với lược. Mà chỉ có lược thưa, lược mau chứ không có lược… thơ(!). Đây là cách suy diễn sai ý tác giả. Nếu chỉ tóc dày...rối lược thưa thì có gì phải bàn nữa, đương nhiên rồi. Rối lược… thơ chính là làm rối bời tâm trạng, nỗi lòng người thơ. Vì vậy mới có câu “Rối lòng nhau rối nẻo bờ hư không”. Mà rõ ràng rối lòng nhau chứ không phải “rối lòng …lược”. Câu thơ, ý thơ mới bay lên huyền ảo.
Thơ Tuyên Quang, có một Cao xuân Thái, trầm tư nhiều lắng đọng. Thơ ông trầm tĩnh, lặng lẽ ngẫm ngợi, chiêm nghiệm đời. Cao Xuân Thái lấy cảm xúc làm cốt lõi.
Một đời đi, một đời chiêm nghiệm…
Lòng không yên như ly rượu sắp tràn.
Thơ ông vẫn xuất hiện rải rác trên Văn nghệ và các báo chí trung ương và địa phương khác.
Nguyễn Trọng Hùng dào dạt cảm xúc của một người lính. Hồi ức chiến tranh, kỷ niệm dòng sông quê, về những má, những o một thời cầm súng trên chiến trường miền nam còn tươi mới, nóng hổi trên từng con chữ.
Đinh Công Thủy âm thầm dịch chuyển. Sự vượt thoát nhọc nhằn giữa cánh đồng chữ nghĩa. “ Xuyên qua vùng kìm hãm vô hình đầy ẩn ức, không nuối tiếc…tiếng cánh nhẹ bẫng”. Sau khi vanvn.net giới thiệu chùm thơ của Đinh công Thủy: Sự dịch chuyển của bầy Linh Thủy cư dân mạng xôn xao và đánh giá tốt những đóng góp của ĐCT trong xu hướng tìm tòi cách tân thơ.
Từ nền thơ ca truyền thống, Tạ Bá Hương đang được làm tươi mới. Lối của TBH chọn là mảng, miếng dân tộc, miền núi. Thơ Hương trong trẻo mang hồn cốt của đồng bào. Muốn bền lâu trên mảnh đất này, nhà thơ cần am hiểu hơn nữa đời sống văn hóa, phong tục tập quán và cả ngôn ngữ của người miền núi. Mặt khác TBH cũng còn “lười biếng” trong sáng tác.
Nguyễn văn Tuấn, nồng nàn da diết với quê, với kỷ niệm tuổi thơ; bao hẫng hụt, nức nở trong tình đời, cả những đau đáu, diết dóng về tình mẫu tử. “Nhiều câu thơ bài thơ tinh tế, uyển chuyển, nhuần nhuyễn có độ dày về ngữ nghĩa và ấm áp về tâm trạng”. (Mai Liễu). Trong thơ, Nguyễn Văn Tuấn cũng hay cố tình “chơi chữ” làm cho thơ mất đi chất hồn nhiên, sâu lắng vốn có. Có bài thơ, quá lệ thuộc vào vần nên gượng ép.
Nguyễn Bình, Nguyễn Hữu Dực, Ngọc Hiệp thủy chung với thơ truyền thống. Đề tài của Nguyễn Bình lấy mái trường làm trung tâm. Ở đấy là cả một đời của người thầy với học sinh thân yêu. Nghe nói tác giả thơ này có thu hoạch ở lĩnh vực sáng tác “trường ca”. Nguyễn Hữu Dực mê mải dòng sông Lô, bến nước và kỷ niệm tuổi thơ. Thơ ông thường đi từ cảm xúc, không tìm tứ, nên dễ bị trôi trượt. Ngọc Hiệp thả hồn mình với nông thôn, nông nghiệp. Chất ca dao trữ tình bay bổng trong thơ nên thơ ông rất gần với âm nhạc. Năm qua, Ngọc Hiệp cũng chưa thấy có bài nổi trội.
Lê Na, sau hai trại sáng tác ở Đại Lải và Quản Bạ, viết được dăm bài, sau đó Cuối chiều Nặm Đăm xuất hiện trên Văn nghệ công an và Cầu trượt của trẻ trâu Làng Tấn in trên Tạp chí Văn hóa các dân tộc thiểu số. Cả năm LN cũng in được chục bài.
Năm 2011 có 5 tập thơ của 5 tác giả Tuyên Quang được xuất bản. Vầng trăng Tân Trào (Trần Xuân Việt), Biển Mặn (Cao Xuân Thái), Đêm trở giấc (Tạ Bá Hương), Thềm hạ (Nguyễn Văn Tuấn) và Ngược miền măng đắng (Nguyễn Kim Thanh) đều do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành. Trần Xuân Việt in tập đầu. Cao Xuân Thái đã in năm tập, ba tác giả còn lại đều là tập thứ hai in riêng. Thành quả này là cả một chặng đường lao động miệt mài, sáng tạo của nhà thơ. Xin được chúc mừng những đứa con tinh thần của các tác giả. Thật tiếc, trong số này, Ngược miền măng đắng có vài bài, mượn ý, mượn câu của tác giả khác. Nhất là trong bài Đại Lải mùa phấn thông vàng, mượn câu, ý và cảm xúc của bài Đà Lạt của Cao Xuân Thái. Có thể do quá yêu quý thơ Cao Xuân Thái nên đã bị ảnh hưởng chăng.
Trên thi đàn năm nay, Tuyên Quang không có giải thưởng của Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS, cũng không có giải của UBLH các Hội VHNT. Đây không phải là tiêu chí đánh giá chất lượng thơ của tỉnh nhưng nhìn chung đây là một vụ Thơ chưa bội thu. Cũng như mọi ngành nghệ thuật săn tìm cái đẹp cho đời, thơ vẫn đang trăn trở, thao thức. Mỗi người cầm bút đang lặng lẽ miệt mài tìm cách đi cho mình chắc chắn hứa hẹn đang chờ phía trước. Xin chúc các tác giả Thơ Tuyên Quang tiếp tục phấn đấu nhiều hơn nữa, chuyển động bút lực hơn nữa để hội nhập xứng tầm nền thi ca cả nước.
LTN
Thành phố Tuyên Quang, Noel 2011